Ở Sài Gòn trước 1975 có trường trung học Lycée Jean-Jacques Rousseau. Trường này nguồn gốc tên Collège Chasseloup Laubat, sau 1954 qua tên Rousseau, rồi đến 1967 đổi thành Trung Học Lê Quý Đôn.  Các tên này thể hiện thay đổi chính trị và học vấn thời đó.  Tên Chasseloup Laubat vào thời thuộc địa. Tên Rousseau thì vào thời miền nam độc lập, nhưng phần lớn giáo sư còn là người Pháp cũng như chương trình học còn nặng theo lối Pháp. (Tấm hình hai lá cờ biểu tượng cho thời gian chuyển tiếp này.)  Rồi qua tên Lê Quý Đôn khi học đường nặng về chương trình Việt. Trường vẫn giữ tên Lê Quý Đôn sau 1975 và đến bây giờ.

Ba tên trường lấy từ ba nhân vật nỗi lặc quan trọng trong thời họ sống.  Lê Quý Đôn thì tên tuổi trong văn hóa xã hội Việt Nam từ lâu, là nhà bác học và quan thị thư cho viện hàn lâm thời nhà Nhà Lê trung hưng, tác giả nhiều sách bách khoa trong thế kỷ 18.  Còn Chasseloup Laubat là ông hầu tước và chính trị gia thế kỷ 19, một bộ trưởng bộ Thủy Quân dưới thời Hoàng Đế Napoleon III, và người ủng hộ mạnh mẽ cho chính sách mở rộng nền thuộc địa Pháp bên Châu Á và Châu Phi. 

Còn Rousseau là ai? Có nhiều cựu học sinh, dù học thời kỳ sau 1967, vẫn gọi mình là học trường Jean-Jacques Rousseau. Chắc vì hồi đi học họ vẫn quen miệng gọi tên trường là JJR mặc dù tên chính thức được đổi qua Lê Quý Đôn, tương tự như trường Chu Văn An ở Hà Nội trước 1954 thường được gọi là Trường Bưởi.  Nhưng câu hỏi còn đó: Rousseau là ai? Vì sao ông nổi tiếng? 

Xin bắt đầu bằng một đối chiếu giữa Jean-Jacques Rousseau và Lê Quý Đôn: hai ông sống cùng thời với nhau.  Rousseau sinh năm 1712, trước Lê Quý Đôn mười bốn năm.  Rousseau quan đời năm 1778, trước Lê Quý Đôn sáu năm. Nghĩa là hai ông không quá khác về tuổi thọ: Rousseau 66 tuổi và Lê Quý Đôn 58 tuổi.  Cả hai viết rất nhiều, nhưng có nhiều khác nhau về tác phẩm. Lê Quý Đôn có sáng tác văn thơ, nhưng phần lớn chú trọng vào nghiên cứu và soạn bách khoa: từ địa lý đến lịch sử, từ thiên văn đến nông nghiệp, từ kinh điển đến ngôn ngữ. Còn Rousseau thì chú trọng về sáng tác văn chương, triết học, và chính trị học.  Ông còn soạn nhạc và viết một vở opera có tiếng thời ấy, nhưng sau đó bỏ nhạc để chú trọng vào văn và triết.

Điều thứ nhì về Rousseau là ông không phải người Pháp. Chúng ta dễ ngộ nhận điều này vì trường JJR bắt nguồn từ thuộc địa Pháp, theo chương trình Pháp.  Nhưng thật ra, Rousseau sinh trưởng ở thành phố Geneva, nơi mà hiệp định chia Việt Nam làm hai diễn ra năm 1954.  Mãi tới ba mươi tuổi ông mới đến Ba Lê.  Ông lại trở về Geneva lần nữa, rồi quay lại Ba Lê trong những năm cuối đời và được chôn cất tại Thành Phố Ánh Sáng này. Cho nên tên tuổi Rousseau hay được gắn vào văn hóa Pháp.

Quan niệm về con người và xã hội trước Rousseau

Văn hóa Châu Âu trong thế kỷ 18 có nhiều tư tưởng mới lạ, và Rousseau thường được các sử gia nhân văn và tư tưởng học cho là mới lạ nhất.  Muốn hiểu mới lạ của Rousseau, chúng ta cần quay lại thời gian và hướng đến ba điểm căn bản. 

Điểm thứ nhất là trong văn hóa cổ điển Hy Lạp, con người và xã hội được gắn liền với nhau.  Trong tác phẩm Cộng Hòa, chẳng hạn, triết gia Plato cho là cuộc sống giá trị nhất cần có một thành phố nhỏ được cai quản bởi một nhà kiêm triết học kiêm quân vương: tiếng Anh là philosopher-king. Triết gia Aristotle, học trò của Plato, là tác giả quyển Chính Trị Học, thì cho dân chủ là chế độ tốt nhất.  Dù khác thầy mình, căn bản của Aristotle vẫn là con người và xã hội mật thiết với nhau trong đời sống theo lý trí cũng như đức hạnh.  Ông coi hạnh phúc là mục đích của cuộc sống con người, và xã hội chính trị cũng như quan hệ thân mật bạn bè giúp được chúng ta đi đến mục đích đó.  Vắn tắt là con người cần có xã hội.

Điểm thứ hai là lối nhìn về bản chất con người.  Nếu các triết gia như Aristotle cho rằng con người có lý trí trong bản chất, thì qua thời Ki Tô Giáo, tư tưởng tôn giáo và thần học được cho là quan trọng nhất.  Trong những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Ki Tô Giáo nhiều thần học gia coi xã hội trần gian là xã hội tội lỗi và tạm thời, và thiên đàng mới là mục đính cuộc sống.  Ông thánh Augustine, chẳng hạn, viết quyển sách dày cộm lấy tên là The City of God: Thành Phố Thiên Chúa.  Ý của Augustine là thành phố này đối chiếu với Thành Phố Trần Thế, biểu hiện cho Đế Quốc La Mã, thuộc về con người.  Vì tội nguyên thủy của ông Adong và bà Evà – tức là vì chọn lựa sai lầm đi theo tội lỗi – loài người mất đi thiên đường mà Chúa tạo ra cho họ.  Về lịch sử và chính trị học, Augustine cho Đế Quốc La Mã ngày xưa sống trong đức hạnh, nên dù chưa biết được tin mừng của Chúa Giê Su, nhưng vẫn được ơn trên che chở nên Đế Quốc hùng mạnh.  Nhưng sau này, Đế Quốc bị sụp đổ là vì dân chúng thờ phượng những thần phàm, chứ không phải Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. 

Tới cuối thời Trung Cổ, thi sĩ Dante viết trường ca có tên Thần Khúc, với mình là nhân vật chính.  Trong tác phẩm kinh điển này, Dante được thi nhân La Mã Virgil đi xuống chín tầng địa ngục, rồi lên tham quan bảy chốn luyện ngục, rồi đi đến chín tầng thiên đường.  Mục đính chính của trường ca là giúp người Ki Tô hữu một bên biết sợ tội, một bên biết cách sống tốt hơn trên thế gian, và một bên hiểu hơn ý nghĩa và tình yêu của Thiên Chúa.  Nói chung, thánh Augustine và các nhà tư tưởng Ki Tô Giáo, kể cả thi sĩ Dante, coi bản chất con người xấu xa tội lỗi, cần ơn sủng Thiên Chúa cũng như sống đạo đức theo quy luật Chúa thì mới có giải phóng được tội lỗi.

Với những tiến triển về khoa học, tư tưởng Châu Âu chuyển hướng rất nhiều trong những thế kỷ 16 và 17.  Ngược lại, thời kỳ này cũng xẩy ra nhiều chiến tranh cũng như khủng hoảng chính trị tại một số các nước Châu Âu.  Ở vùng Trung Âu, chẳng hạn, có chiến tranh tên là Cuộc Chiến Ba Mươi Năm giữa các nước theo Công Giáo hay Tin Lành.  Cuộc chiến reo nhiều tang tóc và chết đi chừng tám triệu người, không phải chỉ vì vũ khí mà còn vì nạn đói và bịnh tật. Còn bên Tây Âu thì có Nội Chiến Nước Anh, như có viết trong bài viết trước về tác phẩm Thiên Đường Đã Mất

Với những sự kiện này giúp nhà tư tưởng học người Anh Thomas Hobbes cho ra quan niệm mới về liên hệ giữa con người và xã hội.  Ngược với tư tưởng cổ điển, ông Hobbes không cho là con người ngày xưa sinh trong xã hội, mà là mỗi cá nhân sinh ra như cá nhân, vô xã hội.  Hobbes gọi tình trạng này là “trạng thái tự nhiên”: tiếng Anh là the state of nature.  Hobbes coi bản chất con người là ích kỷ, lo sợ, tranh đua với nhau.  Vì bản chất này, con người trong trạng thái tự nhiên sẽ gây cấn không hết. Nhưng những cá nhân này cũng công nhận là tình trạng chiến tranh không tốt, nên họ đồng ý với nhau là tập lại làm một xã hội có chính quyền hay nhà nước cai quản.  

Sau Thomas Hobbes, ông John Locke, cũng người Anh, đồng ý là trạng thái tự nhiên không yên ổn mà quá nhiều sáo trộn. Nhưng khác với Hobbes, ông Locke không coi bản chất con người là xấu, mà ông cho rằng họ dùng lý trí mà nói chuyện với nhau, mà đồng ý với các thỏa hiệp với nhau.  Với lý trí, họ tiến đến việc lập ra xã hội có luật lệ, có chính quyền, để mang đến công bằng hoàn hảo, không thiên vị ai hết.  Locke còn nhấn mạnh vai trò của cải và sở hữu tư nhân.  Trong tình trạng tự nhiên, con người tranh chấp là vì tài sản và sở hữu tư nhân của họ không được bảo đảm.  Luật lệ và chính quyền giúp an toàn hóa loại sở hữu này. 

Lý thuyết của Hobbes ra đời đúng giữa thế kỷ 17; lý thuyết của Locke gần 40 năm sau.  Hai mươi ba năm sau nữa thì Rousseau ra đời.  Tới năm 1762 thì ông in ra quyển Luận Về Bất Bình Đẳng.  Tức là từ lý thuyết Hobbes đến lý thuyết Rousseau cách nhau 111 năm.  Lý do tư tưởng Rousseau nguyên thủy là ông bất đồng với các ý tưởng ghi trên.  Khác với Aristotle, ông không cho là con người và xã hội gắn liền với nhau. Khác với Augustine và Dante (cũng như Hobbes), ông coi bản chất con người là tốt chứ không phải xấu.  Rousseau đồng ý với Hobbes và Locke là có trạng thái tự nhiên.  Nhưng ngược với họ, ông cho rằng xã hội và chính quyền làm con người xấu xa và gây ra nhiều bất công và bất bình đẳng cho cá nhân con người.

Ýtưởng của Rousseau có nguồn từ Thomas Hobbes trước hơn một thế kỷ.  Ông Hobbes cho giả thuyết là loài người ngày xưa sống trong trạng thái tự nhiên, nhưng vì bản tính họ tranh chấp nên gây ra trạng thái chiến tranh. Để có thanh bình, họ đồng ý có giao kèo để có luật lệ và chính quyền.  Hiện tượng giao kèo bỏ đi trạng thái thiên nhiên thường được gọi là khế ước xã hội.  Nghĩa là lối nhìn của ông Hobbes khác hẳn với lối nhìn xã hội thời cổ điển và Trung Cổ, khi xã hội được nhìn nhận là có từ tạo hóa và tự nhiên, chứ không phải là vì loài người lập ra.

Jean-Jacques Rousseau đồng ý với Hobbes là con người bắt đầu với trạng thái tự nhiên, rồi dần dần với gây dựng xã hội.  Nhưng ông bất đồng với Hobbes một điều rất ư quan trọng.  Trong khi Hobbes cho bản chất con người tranh chấp và nhiều điều xấu, Rousseau cho ngược lại là con người trong trạng thái tự nhiên có bản chất tốt, nhưng sau này bị xã hội làm xấu xa đi.  Đây là lối nhìn độc đáo, và cả nhiều người bất đồng lý thuyết này cũng đều công nhận là ông có ý tưởng nguyên thủy.   

Trong quyển sách Luận Về Bất Bình Đẳng, Rousseau muốn trả lời cho câu hỏi: Tại sao có nhiều bất bình đẳng trong xã hội loài người? Bất bình đẳng có nguồn gốc từ đâu?  Ông bắt đầu với một lối tưởng tượng về trạng thái thiên nhiên của con người.  Trong trạng thái này, con người sống trong thiên nhiên quanh thú vật.  Bản chất họ là cô độc, rảnh rỗi, và sống theo bản năng.  

“Người man rợ” trong trạng thái thiên nhiên

Cô độc: Trong trạng thái tự nhiên, con người không theo bầy theo đàn.  Họ sống một mình, kiếm ăn một mình, ngủ đêm một mình, đi đi lại lại một mình. Chúng ta phải hiểu là từ “cô độc” không phải là xấu mà là tốt trong trạng thái này.  Nhất là người Việt lớn lên trong xã hội Việt Nam, quen với lối sống có nhiều liên hệ gia đình, đại gia đình, hàng xóm, và bạn bè.  Vì quen lối này, chúng ta cho “cô độc” là cô đơn, và chỉ có một ít người tu hành khuất mới có thể sống được lối này. Đối với Rousseau, cô độc không phải xấu vì nó làm con người không phải lệ thuộc vào ý kiến người khác.  Cô độc là một bản chất giúp cho con người được tự do.  

Rảnh rỗi: Trong trạng thái tự nhiên, con người cô độc nên không có trách nhiệm gì với ai cả.  Không có xã hội, không có gia đình, ngay cả bạn bè cũng không, cho nên họ không bận rộn hay có trách nhiệm như đời sống trong xã hội như chúng ta. Rousseau coi rãnh rỗi là một điều kiện to lớn cho sự tự do con người. Tất nhiên họ phải kiếm ăn bằng hái cây trái hoặc săn bắn.  Nhưng họ không phải lao động như lối chúng ta, theo khuôn khổ.  Họ không sống được lâu trong xã hội, nhưng vẫn lâu hơn phần lớn thú vật. Quan trọng hơn, họ chỉ lo cho mình nên không bận rộn như con người trong xã hội.

Bản năng: Người trong trạng thái tự nhiên không bị lý trí nắm đầu, mà sống với bản năng: tiếng Anh chữ instinct. Vì chung quanh họ là những hiểm nguy, có thể bị thú vật độc cắn hay tấn công họ bất cứ lúc nào, ngay cả ban đêm, nên bản năng họ rất cao độ.  Cũng vì lối sống bản năng này mà họ có sức thân thể hơn, mạnh bạo hơn.  Thêm nữa là hằng năm, bản năng mang người nam và người nữa lại để liên hệ tình dục.  Nhưng sau đó thì đường nào nấy đi.  Ngay cả người nữ khi có thai đẻ con, chỉ nuôi một thời gian đầu rồi con họ đủ lớn rồi tự mình kiếm sống, cũng cô độc như cha mẹ nó. 

Rousseau gọi người trong trạng thái thiên nhiên là người man rợ.  Nhưng chúng ta phải hiểu rằng “man rợ” trong lối dùng này không có ý xấu.  Man rợ ở đây không phải là một điều đáng ghê tởm, mà chỉ là ý ngược với “xã hội” mà thôi.   Vì cô độc, rảnh rỗi, và sống theo bản năng, người man rợ được tự do, hạnh phúc, mạnh bạo, và tốt hơn người sống trong xã hội văn minh sau này.  Quan trọng nhất, là có bình đẳng trong trạng thái tự nhiên, vì người man rợ không bị lệ thuộc vài ai.

Nếu vậy, thì người man rợ có khác gì thú vật không?  Theo Rousseau thì có.  Mặc dù họ giống các loài thú nhiều thứ, kể cả bản năng, người man rợ có thêm ý chí tự do.  Rousseau không nói rõ về điều này cho lắm, nên cũng có khó khăn phân tích.  Nhưng ông nghĩ là ý chí tự do thể hiện một điều khác về người man rợ: họ có thể tiến triển khả năng trời cho. Dù nhỏ hơn nhiều loài thú khác, chẳng hạn, họ có thể kiếm cách bẫy thú để bắt.  

Một điều khác về bản chất người man rợ là họ có xót thương với người khác: tiếng Anh là pity.  Khi họ thấy một người khác đau ốm, hay bị thương vì thú vật cắn hay cây rơi, họ cảm được xót thương cho người đó.  Xót thương này là trong bản chất họ có, chứ không phải được giáo dục trong xã hội.  Cũng vì bản chất xót thương mà họ không gây chiến với nhau.  Đó là một căn bản khác nhau giữa Rousseau và Hobbes. Ông Hobbes cho rằng con người có bản tính tranh chấp trong trạng thái tự nhiên, gây ra một trạng thái mới là trạng thái chiến tranh. Với Rousseau, không có tranh chấp trong trạng thái tự nhiên là vì con người không những sống cô độc mà còn có xót thương người khác.  Ai cũng như ai, không tranh chấp mà cũng không bất bình đẳng.

Xã hội sơ khởi

Nhưng con người không thể ở trạng thái tự nhiên mãi được, mà cũng có lúc họ cộng tác với nhau.Rousseau thí dụ hai người man rợ gặp nhau khi họ đi săn thú.  Họ thấy con nai, và chỉ tay làm dấu là hãy cùng nhau bắt nó vì nai to thân thể, một người bắt không được.  Nhưng trong khi hai người âm thầm cầm vũ khí tới gần nai, thì có con thỏ đi ngang.  Một người liền bỏ nai theo thỏ để bắt nó.  Nhưng người kia cũng không sầu, vì hắn cũng làm như vậy nếu người đầu không đuổi theo con thỏ.  Ý Rousseau là trong trạng thái tự nhiên, hợp tác sơ sài không có tác động gì cho lắm.

Nhưng ngược lại, người man rợ dần dần hợp tác để chống chỏi với thiên tai như bão lụt.  Họ bắt đầu sống chung với nhau để cùng làm đê chống lụt, hay cứu nhau sau động đất. Có một số người chế ra vũ khí đơn thuần để săn thú vật, hay tạo ra những bẫy bắt chim thú.  Họ chỉ cho nhau, và săn bắn với nhau. Lối hợp tác của họ bền hơn trước, một phần là vì họ phát triển ngôn ngữ để dễ giao tiếp và thông tin cho nhau.  Rồi họ còn bắt đầu sống theo lối gia đình, tức là nam nữ sống chung và nuôi con với nha, chứ không phải bỏ đi sau chung đụng tình dục như trước. Trong lối sống gia đình này, họ phát triển hai tình cảm mới: một là tình cảm vợ chồng, hai là tình cảm cha mẹ với con cái.  Hay tình cảm này làm họ cảm thấy trách nhiệm cho người khác, và mất đi lối toàn năng cô động và rảnh rỗi trước đó.

Xã hội sơ khởi bắt đầu trong khung cảnh này. Nó bắt nguồn từ đối chọi với thiên tai, rồi dẫn đến sống theo bộ lạc cũng như tình cảm gia đình.  Ngược lại, những diễn tiến tình cảm này thay đổi lối sống phản ứng theo bản năng, tạo mầm móng cho luân lý con người.  Trong trạng thái tự nhiên, người man rợ không có khái niệm tốt hay xấu.  Bây giờ thì khác, sống trong xã hội tạo ra đạo đức cũng như phong tục và tập quán. 

Theo Rousseau, xã hội lúc này không hẳn là xấu, vì sao đi nữa, con người vẫn còn nhiều tự do cũng như bình đẳng với nhau.  Sao đi nữa, Rousseau đánh giá người man rợ có tự do nhiều nhất, nhưng chưa tiến triển đủ khả năng trời cho.  Trong xã hội sơ khởi, họ gây dựng những khả năng này. 

Nhưng ngược lại, xã hội sơ khởi cũng là mầm móng dẫn đến bất bình đẳng sau này.  Lý do chính là một khi sống theo phong tục tập quán, con người mất đi một chút tự chủ.  Họ bắt đầu so sánh lẫn nhau: người này hay hơn tôi, người kia dở hơn tôi, người nọ giống tôi, người khác khác tôi.  So sánh làm họ bị lệ thuộc vào xã hội, mất đi độc lập. Nếu sống cô độc không có so sánh; nhưng khi sống chung, so sánh nở ra.  Sống lối này càng làm mất thêm bản năng, và dùng nền tảng so sánh này nẩy thêm những cảm tưởng khác, như hãnh diện hay hổ thẹn, danh dự hay nhục nhã.  Những cảm tưởng này làm mất hết bản năng, không còn chứng tích gì là người man rợ nữa. 

Xã hội văn minh

Nhưng chưa hết, vì xã hội sơ khởi còn tiến đến tiến triển về nông nghiệp cũng như luyện kim.  Rousseau dùng chữ “nghệ thuật” để diễn tả những tiến triển to tát này.  Nhờ nông nghiệp và luyện kim, kỹ thuật kinh tế xã hội tăng cao hơn, giúp con người thu hoặt cây trái nhiều hơn, săn bắn được hiệu quả hơn, và xây dựng làng mạc cao cấp hơn. 

Ngược lại, hai nghệ thuật nông nghiệp và luyện kim cũng làm con người định nghĩa giá trị đời sống theo lối sở hữu tư nhân.  Ai có đất đai nhiều thì có giá trị cao hơn, quyền hành lớn hơn những người ít đất.  Con người bị phân toán theo phong tục và luân lý bắt nguồn từ so sánh mà ra, còn xã hội thì phân chia trên dưới theo tiêu chuẩn vật chất.  Người giàu người nghèo rõ rệt trong xã hội này. Họ không di chuyển từ nơi này đến nơi khác vì nông nghiệp bắt họ dừng chân.  Nhưng nếu có ăn nhiều, thì giai cấp cũng rõ rệt bị  chia ra. 

Nói chung, Rousseau nhận định rằng sở hữu tư nhân thay đổi hoàn toàn con người, làm mất hết cá tính họ có trong trạng thái tự nhiên ngày xưa.  Xã hội dựa trên tài sản và sở hữu tư nhân làm bình đẳng mất dần mất mòn, là vì nó dẫn đến tạo dựng pháp luật để bảo vệ cho tài sản.  Lúc đầu còn ít khác biệt giữa giầu nghèo, nên pháp luật được đại đa số đồng ý.  Họ cũng đồng ý chấp nhận là cần có người cầm quyền để thi hành và bảo vệ pháp luật.  Nên xã hội có thêm chính phủ.  Nhưng sau này, người giàu càng giàu và người nghèo càng nghèo, nên người giàu ủng hộ cho chính phủ họ muốn.  Người nghèo thì khổ là bị mất nhiều quyền lực, nên tiếng nói họ không hiệu quả cho lắm.  Đối với Rousseau, đó là hiệu chứng của bất bình đẳng trong xã hội loài người.

Kết luận

Mục đính Rousseau là giải thích nguồn gốc bất bình đẳng. Nhưng như ta thấy trong bài này, lý thuyết ông rất độc đáo vì lối nhìn về bản chất con người của ông rất độc đáo.  Thay vì coi loài người bản chất xấu, Rousseau cho là nguyên thủy con người là tốt nhưng sau thành xấu vì bị ảnh hưởng xã hội. 

Rousseau không có ý nói là con người phải trở về trạng thái tự nhiên.  Không phải thế, vì sao đi nữa, con người sống trong xã hội quá lâu nên không thể nào về lại tự nhiên được.  Nhưng ông nghĩ là họ có thể bỏ được bất bình đẳng nếu họ đồng ý chuyển xã hội văn minh của họ qua một lối khế ước theo ý muốn toàn dân.  Đây là một luật thuyết khác, khá rắc rối, mà Rousseau viết nơi khác chứ không phải trong Luận Về Bất Bình Đẳng

Trở về bài luận này, điểm quan trọng cần nhớ là Rousseau trong thế kỷ 18 thay đổi hoàn toàn lối nhìn xã hội và con người. Ông là một trong những người cách mạng tư tưởng lớn nhất trong lịch sử tư tưởng phương Tây thời cận đại, nên học sinh Hoa Kỳ ngày na, nhất là chính trị học, vẫn học hỏi tác phẩm ông viết.