Bài viết tháng trước nói về nhà tư tưởng hiện sinh Kierkegaard. Tháng này, chúng ta học hỏi về một triết gia hiện sinh khác là Friedrick Nietzsche.  Dù hai người đều sống trong thế kỷ thứ 19, ông Kierkegaard sống vào nửa thế kỷ trước, còn Nietzsche vào nửa thế kỷ sau. 

Lối nhìn hiện sinh của hai người cũng rất khác nhau. Kierkegaard dù không hài lòng với tổ chức đạo giáo Thiên Chúa Giáo, nhưng ông là người tin Chúa và coi  lối sống theo đức tin là lối sống cao nhất.  Còn Nietzsche không những là người vô thần, mà còn cho thời hiện đại làm xã hội và con người mất tin vào đấng thiên liêng.  Câu nói nổi tiếng nhất của ông là “Chúa chết rồi,” tiếng Anh là “God is dead!”  Ý lời nói không phải là Thiên Chúa không tồn tại nữa, mà là lòng tin Thiên Chúa của con người hiện đại của thế kỷ 19 và tương lai đang chết dần. 

Tại sao Nietzsche nói vậy? Một phần là vì văn hóa, xã hội, và phát triển khoa học của cuối thế kỷ 19 làm một số người Âu coi tín điều tôn giáo, nhất là của các giáo hội Công Giáo và Tin Lành, là mê tín và sai lầm.  Thứ nhì, ông không chỉ công kích tôn giáo thôi, mà ông còn coi những phát triển cấp tiến của văn hóa và khoa học gây nhiều điều hại cho nhân chủng và đời sống con người.  Cũng như Kiekegaard, ông viết rất nhiều sách. Một số sách viết về nghiên cứu ngữ văn và triết lý.  Một phần khác thì ông tấn công ý tưởng tôn giáo từ thời xưa cũng như tư tưởng ý tục thời hiện đại một phần. Rồi cũng có một phần ông suy tưởng một đề nghị làm lại tư tưởng đề còn thiên tính con người.

Nếu tư tưởng Kierkegaard không dễ hiểu đối với người lớn lên ở Việt Nam, thì tư tưởng Nietzsche chắc khó gấp hai.  Lối viết của ông suy diễn từng đoạn ngăn ngắn, đi từng chương be bé thôi, nhưng ý tưởng bay nhẩy có lúc lạ lùng.  Ngay cả các học sinh lớn lên bên Hoa Kỳ cũng không thấy Nietzsche là dễ.  Bài viết này chú trọng vào tác phẩm Nói về Nguồn Gốc Luân Lý , một trong ba hay bốn tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, mà cũng thường là tác phẩm thường được dậy tại đại học vì nó dễ hiểu hơn một chút.

Tốt và xấu trong lịch sử luân lý loài người

“Dễ hiểu hơn” không có nghĩa là không khó.  Lối nhìn của Nietzsche có nhiều lạ thường, và phần đầu tác phẩm cho ta thấy tư cách lạ thường của suy tưởng ông.  Theo Nietzsche, thì luân lý như chúng ta hiểu bây giờ không phải là lối luân lý nguyên thủy.  Thời nay, luân lý được coi trong lối nhìn “có tốt và có xấu.”  Nghĩa là tư tưởng chia hành động con người ra “tốt” và “xấu” hẳn hoi.

Nhưng theo Nietzsche thì khác.  Ngày xưa, luân lý con người được dựa trên bản tính tự nhiên con người.  Đối với Nietzsche, ý chí là nền tảng của cuộc sống; không có ý chí thì con người cũng như con thú.  Còn lý luận thì sao?  Nếu không có lý luận thì con người cũng như con thú vậy, đúng không?  Nietzsche không nói là lý luận không cần thiết, nhưng ông không coi lý luận là nền tảng căn bản như ý chí. 

Theo nghiên cứu về ngôn ngữ của ông, có một số người sống mạnh bạo với ý chí trong xã hội ngày xưa.  Nietzsche gọi luân lý của họ là luân lý quý tộc hay luân lý bề trên: tiếng Anh là noble morality hoặc master morality.  Họ không đánh giá hành động hay đời sống theo lối nhìn tốt với xấu.  Đối với họ, “tốt” nghĩa là sống lối có tính chất cương quyết, mạnh bạo, dũng cảm, đầy nghị lực, đầy tin tưởng sức sống của mình, tự coi mình sống theo sự thật chứ không phải giả dối với đời.  Tính chất này được Nietzsche coi là “quý tộc”: không phải như trưởng giả mà là người anh hùng cao độ.  Nói nôm na là họ sống rất ngầu.  

Thêm điều nữa là lớp người quý tộc có quan niệm “xấu” là thấp hèn, thông thường, bình dân.  Đối với họ, từ “xấu” nghĩa là “dở” chứ không phải là “sai.”  Điều này rất ư quan trọng trong triết lý Nietzsche, là vì giá trị luân lý của người quý tộc là sức sống từ ý chí mà ra.  Lối so sánh của họ là có nhiều hay ít ý chí, mạnh hay yếu, hùng cường hay kém cỏi.   Tư tưởng họ không có từ “sai” mà chỉ có chữ “dở” thôi. 

Mặc dù chú trọng về Phương Tây, Nietzsche coi hạng người quý tộc có mọi nơi trong lịch sử nhân loại.   Có một đoạn trong sách, ông mang ra thí dụ những người Hy Lạp thời truyền thuyết, cũng như người La Mã thời đế quốc, người Viking hay đi biển từ xứ Scandinavia bên Bắc Âu ngày xưa, cũng như các sắc tộc Ả Rập, Nhật, và Đức sau này. Đó là vài thí dụ về hạng người đầy chất sống, chứ không phải chỉ người da này hay da kia.

Ngược với hạng người quý tộc là những loại người thấp hè.  Theo dòng lịch sử, một số trong những người này cảm thấy mình bị người quý tộc áp chế.  Không những họ phải phục vụ người quý phái, mà còn có lúc phải làm nô lệ.  Nhưng vì không đủ can đảm hay nghị lực đứng lên chống lại người quý tộc, họ phát triển dần dần một phẫn nộ trong tâm tư.  Nietzsche dùng từ tiếng Pháp để diễn tả ý tưởng này: ressentiment.  Người nô lệ không dùng bạo động chống lại người quý tộc, nên họ dùng tư tưởng luân lý chống lại cho bớt đi bất bình.

Không những hạng người nô lệ bực tức oán dận người quý tộc, mà họ còn phát triển thành kiến mới.  Theo quan niệm họ, luân lý không phải có “khá” và “dở” trong tư tưởng hạng người quý tộc, mà phải là “tốt” và có “xấu” thì mới được coi là luân lý.  Ngoài ra, Nietzsche nhận định rằng người nô lệ được tầng lớp giáo sĩ trong các xã hội giúp họ phát triển tư tưởng mới mẻ này.  Ông cho rằng tầng lớp giáo sĩ yếu hơn tầng lớp quân đội, nên họ không được coi trọng bằng những thành phần lãnh đạo trong quân đội.  Nên họ đi theo tư tưởng mới, giúp thành phần nô lệ dựng nên tư tưởng luân lý nô tì, tiếng anh là slave morality.

Nietzsche nhận định rằng tư tưởng luân lý nô tì phát triển nhiều nhất từ Do Thái Giáo, nhất là trong thời kỳ hùng cường của Đế Quốc La Mã.  Do Thái Giáo có vai trò quan trọng một phần là vì họ mất nước và dân họ phải làm nô lệ.  Rồi một phần nữa là tôn giáo người Do Thái có sẵn thành phần giáo sĩ truyền thống từ lâu, nên tư tưởng luân lý nô tì dễ thông dụng trong dân họ.  Sau này, Thiên Chúa Giáo đi tiếp đường lối của Do Thái Giáo, không những ủng hộ luân lý nô tì mà còn mở rộng tư tưởng này hơn.  Nên ông coi Thiên Chúa Giáo nói riêng, và các tôn giáo nói chung, là kẻ thù tai hại của luân lý quý tộc.  

Tội lỗi và lương tâm cắt rứt

Sau phần nhận xét về mầm gốc của luân lý quý tộc và luân lý nô tì, Nietzsche quay qua sự hình thành của tư tưởng về tội lỗi cũng như lương tâm.

Theo ông, tư tưởng luân lý “xấu hổ về tội” ngày xưa không có.  Nhưng vì  trong xã hội, người ta mua bán nhau, rồi có lúc mượn tiền hay mượn của cải lẫn nhau, nên phát ra tư tưởng “nợ nần.”  Lúc đầu, nợ nần được coi là nợ tiền bạc, đồ đạc, hay công sức thôi.  Khi người nợ trả lại thì nợ hết.  Nhưng dần dần, người chủ nợ không những cho rằng người nợ có nợ mình vật chất, mà còn nợ trong tâm lý. 

Điều này nghe hơi khó hiểu. Nhưng nếu chúng ta đặt thử thí dụ về người Việt mượn tiền nhau, thì có thể dễ hiểu hơn.  Chẳng hạn như ông A đi mượn tiền ông B, lúc đầu trả xong. Nhưng sau đó ông phải mượn nữa, rồi trả lại, rồi mượn nữa.  Sau một thời gian, ông B chắc có cảm tưởng là mặc dù ông A đã trả hết nợ, ông ta vẫn kém mình và dưới mình.  Khi nói chuyện với người khác, ông A kể là ông B mượn tiền tôi mấy lần rồi, mấy tháng sau có trả, nhưng ông bạn cảm tưởng là ông A coi ông B là kém hơn mình, trả hết nợ tiền nhưng còn nợ tình cảm.  Có thể là nợ cả đời, mãi mãi đến chết luân.  Mà nhiều khi chết rồi vẫn chưa hết nợ, vì ông A có thể kể cho con cháu ông B là ngày xưa tao rộng rãi cho ba mày hay ông mày mượn tiền mấy lần đấy.  Ý ơỏ đây là tư tưởng “nợ nần” xuyên và tâm lý và luân lý, chứ không phải chỉ đứng tại lãnh vực kinh tế mà thôi.

Từ nợ nần, người chủ nợ còn được xã hội giúp thêm có luật pháp để bắt người nợ trả.  Nếu không trả nợ thì sẽ bị coi là “tội nhân” và bị phạt theo hình sự.  Lúc đầu, pháp luật trừng phạt tội nhân vừa nhiều và thường xuyên.  Họ còn tạo cảnh trừng phạt nơi công cộng để người dân nhìn được.  Tư tưởng tội lỗi trong luân lý vì thế càng ngày càng cao.   Rồi xã hội còn tự cho mình có phép tha thứ hay tha bổng cho tội nhân. 

Lương tâm cắn rứt từ đâu có?

Nhưng có phải vì trừng phạt mà ra lương tâm cắt rứt không?  Nietzsche trả lời là chưa chắc, là vì lương tâm có nguồn gốc khác.  Tại sao?

Theo Nietzsche, hình sự có thể tạo ra sợ hãi trong xã hội, nhưng không hẳn tạo ra lương tâm con người.  Ngược lại với tư tưởng bình dân, ông còn cho trừng phạt có thể làm người ta chống lại chính quyền hơn, hay chống lại tư tưởng hình sự hơn.  Tại sao? Lý do là trừng phạt chỉ tạm thời đình chỉ hoạt động của người đang bị phạt.  Nhưng nó không có thể nhất quyết thay đổi tư tưởng hay thâm tâm của họ, không thể nhất thiết làm yếu đi ý chí và sức sống con người.  Có lúc, nó còn làm người ta chống lại hay phản lại quyết liệt hơn. 

Người Việt chúng ta có thể nghĩ đến thí dụ những người làm cách mạng chống Pháp thời xưa.  Họ bị chính quyền thuộc địa bắt vào tù để trừng phạt những hoạt động cho độc lập. Nhưng tù đầy thường là làm họ chống chế độ thuộc địa mạnh mẽ hơn nữa.  Bị bắt bớ đánh đập là một chuyện. Thay đổi tâm tư hay tư tưởng là một chuyện khác.

Nếu không phải trừng phạt hình sự, thì nguồn gốc lương tâm đến từ nơi nào?  Theo Nietzsche thì căn nguyên chính của tình trạng lương tâm cắn rứt là nội tâm hóa: từ tiếng Anh của khái niệm này là internalization.  Ý tưởng này không phải có nghĩa tốt là làm cho nội tâm mạnh mẽ hơn, mà là nghĩa xấu là con người để giá trị bên ngoài lấy mất  thu nhận giá trị bên ngoài để đánh giá chính mình rồi làm mất đi bản chất của mình. 

Nietzsche coi nội tâm hóa quan trọng là vì ông định nghĩ bản chất con người theo lối tự nhiên.  Trong tự nhiên, con người có ý chí thiên về lối quyền lực – tiếng Anh là the will to power.  Ý chí này muốn người khác phục tùng mình, muốn bạo động để lấy được ý nghĩa sống.  Cũng có lúc ý chí này dẫn đến hung bạo và tàn nhẫn với nhau.  Đối với Nietzsche, đây là điều tốt chứ không phải xấu.  Không phải là ông muốn con người hung bạo hay tàn nhẫn với nhau.  Nhưng mà hung bạo hay tàn nhẫn là một thể hiện cho ý chí quyền lực mà ông coi là bản chất và bản năng con người. 

Khổ một cái là khi xã hội càng hình thành, khi luân lý nô tỳ càng đi lên, thì con người càng bớt đi hung bạo bên ngoài.  Nhưng bớt đi bên ngoài không có nghĩa là mất đi hung bạo, mà là họ chuyển hướng hung bạo đưa vào chính mình.  Nguồn gốc của trạng thái “lương tâm cắt rứt” là nơi đây, mà vì nguồn gốc từ bên trong nên lương tâm này cứng hơn, chắc hơn những ảnh hưởng từ trừng phạt hình sự bên ngoài. 

Lý tưởng khổ hạnh và tu sĩ khổ hạnh

Tất nhiên Nietzsche coi lương tâm cắt rứt là điều không tốt cho nhân loại.  Trong vài sách khác, ông mang nhiều đề nghị về cải thiện lại luân lý để mang nhân loại về trạng thái thiên nhiên.  Nhưng trong tác phẩm này, ông có mục đích phân tích những điều không ổn trong lịch sử luân lý.  Nên tác phẩm đi tiếp một chương nữa để phân tích về vấn đề.

Trong chương ba của Nói về Nguồn Gốc Luân Lý, Nietzsche viết về một tư tưởng khá thông thường trong luân lý nhân loại:  lý tưởng khổ hạnh.  Theo ông, lý tưởng này áp chế luân lý khá lâu, làm nhân loại mất thêm sức sống cũng như ý chí quyền lực.  Rất nhiều loại người nô lệ vào lý tưởng khổ hạnh này, kể cả nghệ sĩ, triết gia, và khoa học gia.  Vậy lý tưởng này nghĩa là sao?

Lý tưởng khổ hạnh xem đời sống con người trên thế gian là đau khổ nên phải có được ý nghĩa.  Theo Nietzsche thì đau khổ không có ý nghĩa gì trong đó hết. Khi con người bận rộn sống lối đầy ý chí quyền lực, họ coi đau khổ là chuyện bình thường trong đời sống, không đáng mó màng.  Nhưng với tôn giáo, nhất là với các tu sĩ, đau khổ được mang lên bàn thờ, được coi là có mục đích, có ý nghĩa. 

Các tôn giáo lớn từ Đông qua Tây, từ Bắc xuống Nam, thường là có quan niệm về đau khổ, rồi giải thích đau khổ có ý nghĩa này hay có mục đích kia.  Phật Giáo chẳng hạn, coi đời là bể khổ nên con người cần đi kiếm chân lý thoát khổ.  Ấn Độ Giáo (Hinduism) thì nói là con người sẽ tái sinh.  Ki Tô Giáo thì giảng về thiên đàng đời sau.  Nghĩa là các tôn giáo đưa ý nghĩa vào chuyện không có ý nghĩa, vấn đề hóa một điều mà không phải là vấn đề.   Họ nêu lên lý tưởng khổ hạnh, giao giảng tuyên truyền lý tưởng này đến muôn dân, cho rằng ý nghĩa cuộc sống không nằm ở đời này mà nằm ở đời sau.   Trong quan niệm này, con người nên chấp nhận đau khổ cũng như coi đau khổ có đầy mục đích. 

Nietzsche coi lý tưởng khổ hạnh gây nhiều tai hại trong lịch sử luân lý nhân loại.  Nhưng ông cũng công nhận là những người tu sĩ khổ hạnh có nhiều cái hay.  Mang ý nghĩa vào chuyện không ý nghĩa không phải dễ làm, nên Nietzsche coi những tu sĩ tuyên truyền khổ hạnh một loại người xuất sắc.  Họ thành công trong bao thế kỷ, tạo  dựng nên một tôn giáo này hoặc góp sức mở mang ý thức của một tôn giáo khác. 

Nhưng kết cục thì Nietzsche xem lý tưởng khổ hạn tai hại cho nhân loại.  Không những nó làm bớt ý chí sống con người, mà bây giờ trong thế kỷ 19, nó bắt đầu mất đi ý nghĩa.  Đây là lý do mà Nietzsche tuyên bố câu bất hủ: Thiên Chúa chết rồi, tức “God is dead.”  Ý ông không phải là Thiên Chúa chết, mà là lòng tin vào Thiên Chúa đang bớt dần trong thế kỷ của ông. Với phát triển và tiến bộ của khoa học thời hiện đại, nhân loại càng ngày càng tin vào khoa học hơn là tin vào Kinh Thánh hay giáo hội.  Nhưng khổ nỗi là Nietzsche không ổn với lòng tin này, vì ông thấy nó hướng về vật chất chứ không phải ý tưởng quyền lực.  Khi con người tin khoa học quá, họ sẽ thụ động hơn, chứ không tác động để tạo ra ý nghĩa cho cuộc sống mình.  Theo Nietzsche, kết quả sẽ là nhân loại mất hết đi ý nghĩa sống, chỉ thở trong vật chất và trong niềm hư vô: tiếng Anh gọi là nihilism. 

Kết luận về tác phẩm

Tới đây, chúng ta có thể hiểu được mục đích chính khi Nietzche viết quyển Nói về Nguồn Gốc Luân Lý. Ông lo cho tương lai nhân loại, và ông muốn nhân loại hồi sinh trong ý chí cuộc sống để họ sống như người chứ không như máy.  Ngoài ra, lối viết Nietzsche khá đặc biệt.  Ông viết từng chương ngăn ngắn, với lời viết đặc biệt ít ai bằng.  Vì hai lý do này mà ông là một trong những nhà tư tưởng học của thế kỷ 19 được nghiên cứu nhiều nhất trong sáu hay bảy chục năm qua. 

Nhiều người không đồng ý với giải quyết của Nietzsche, nhất là viết trên tác phẩm Zorathustra Đã Nói. Nhưng phần lớn họ vẫn công nhận rằng ông có những nhận định độc đáo và lối nhìn xuất sắc về đời sống hiện đại. Đây là thời kỳ máy móc và kỹ thuật lên cao, càng ngày càng ảnh hưởng đến lối sống và xã hội loài người.  Nếu có bất đồng với Nietzsche về giải pháp, nhiều người vẫn coi phê bình của ông đáng tìm hiểu. Vì thế, tác phẩm Nói về Nguồn Gốc Luân Lý vẫn được giảng dậy rộng rãi tại học đường Hoa Kỳ ngày nay.

Chú ý:  Độc giả có thể đọc bản dịch của Lê Dọn Bàn, bắt đầu trên trang mạng sau:  http://chuyendaudau.blogspot.com/2012/04/nietzsche-on-genealogy-of-morals.html.